Hiển thị các bài đăng có nhãn Steps Special School. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Steps Special School. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2019

Những công việc mà người tăng động giảm chú ý có thể làm rất tốt




Những người bị tăng động giảm chú ý thường có thể có một tuổi thơ với rất nhiều khó khăn bởi các triệu chứng như giảm chú ý, vận động gia tăng,…vv. Họ không thể hoàn thành tốt được bất cứ công việc nào vì bị mất đi khả năng kiểm soát hành vi và sự tập trung,… Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là họ không thể thành công và một công việc tốt, một cuộc sống hạnh phúc khi trưởng thành.
1. Những công việc mang tính khẩn cấp
Những người mắc chứng tăng động giảm chú ý có xu hướng hoạt động tốt trong những môi trường có cường độ hoạt động cao, nhịp độ nhanh. Điều này giúp họ biến điểm yếu của mình thành ưu điểm để hoàn thành tốt công việc.
Một số công việc có tính khẩn cấp như: cứu hỏa, cứu thương, …vv.
Với khả năng phản ứng nhanh và liên tục của mình, những người mắc chứng tăng độ giảm chú ý hoàn toàn có thể làm chủ được các tình huống trong công việc với áp lực cao, cường độ liên tục như vậy.
2. Những công việc đòi hỏi tốc độ nhanh
Việc suy nghĩ liên tục và di chuyển nhanh sẽ là lợi thế của người mắc chứng tăng động giảm chú ý trong những công việc như: cờ thủ, vận động viên thể thao, tay đua thể thao, trông trẻ, nhân viên siêu thị, y tá, giáo viên, bán hàng, huấn luyện viên,…vv – những công việc này đỏi hỏi rất nhiều về tốc độ và cả khả năng tư duy nhanh.
Bạn sẽ thắc mắc rằng, tăng động giảm chú ý có thể gây ra sự mất tập trung, liệu có ảnh hưởng gì chăng? Không phải tất cả các trường hợp của tăng động giảm chú ý đều đi kèm với mất tập trung, đó có thể là: gia tăng vận động; giảm chú ý; hoặc cả tăng động kèm giảm chú ý. Không ít người mắc chứng này được gọi chung là tăng động giảm chú ý, nhưng không phải tất cả họ đều bị suy giảm khả năng tập trung. Bên cạnh đó, tình trạng của mỗi người sẽ có những điểm khác nhau, nếu vấn đề mất tập trung được kiểm soát hoặc có mức độ ảnh hưởng thấp thì không có gì quá ảnh hường đến công việc của họ.
3. Những công việc đòi hỏi sự sáng tạo và thực hành thực tế
Cảm giác của những người mắc chứng tăng động giảm chú ý luôn là rất bồn chồn, mong muốn có gì đó để làm, và họ không thể ngồi không một chỗ dù chỉ một phút. Những công việc phải làm liên tục, luôn tay, luôn chân có thể sẽ rất phù hợp với họ.
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những người bị tăng động giảm chú ý phần đông có khả năng sáng tạo rất tốt. Họ có thể trở nên rất tuyệt vời khi làm việc về nghệ thuật đòi hỏi tư duy sáng tạo cao.
Một số công việc trong nhóm này là: nhạc sĩ, nghệ sĩ, vũ công, nhà nghiên cứu, giáo viên, kỹ sư, nhà thiết kế, nhân viên đồ họa,…vv.
*Bài viết trên đây tổng hợp một số công việc được cho là phù hợp với những người bị tăng động giảm chú ý dựa trên đặc tính công việc và những điểm mạnh của người bị tăng động giảm chú ý. Các công việc trêni đây là không đầy đủ, chỉ mang tính chất tham khảo chung.
Bất cứ người bị tăng động giảm chú ý nào cũng có thể tham gia vào các lĩnh vực/ ngành nghề trong đời sống mà mình muốn, tùy theo khả năng. Hội chứng tăng động giảm chú ý không ảnh hưởng đến các tiềm năng của người mắc phải. Nếu biết tận dụng, đó có thể là thế mjanh tuyệt vời mà không phải ai cũng may mắn có được.
Chúng tôi tin rằng bất cứ người mắc tăng động giảm chú ý nào cũng có thể thành công, dù là công việc nào đi chăng nữa. Bằng sự quyết tâm, niềm đam mê và bền bỉ, họ hoàn toàn có thể hiện thực hóa ước mơ của mình.
Xem thêm :

----------------------------------------------------------------------------------------------
Address: Street 12 - No 10, Thao Dien, District 2, Ho Chi Minh City
Phone: 0973347976 - (028) 22 534 728
Email: info@steps.edu.vn  

Hội chứng Fragile X – bệnh di truyền thường gặp ở trẻ em



Hội chứng Fragile X (FXS) là gì?

Hội chứng Fragile X (FXS) là một bệnh di truyền được truyền từ cha mẹ sang con cái gây ra khuyết tật trí tuệ và phát triển. Nó còn được gọi là hội chứng Martin-Bell. Fragile X (FXS) là nguyên nhân di truyền phổ biến nhất gây rối loạn tâm thần ở trẻ em trai, và triệu chứng cũng nguy hiểm hơn ở các bé trai. Nó ảnh hưởng đến 1/4.000 bé trai. Fragile X (FXS) ít phổ biến ở trẻ nữ, tỉ lệ này là 1/8.000.
Hội chứng Fragile X (FXS) gây ra các vấn đề học tập, phát triển sinh học, vấn đề xã hội và hành vi cho đứa trẻ mắc phải. Tình trạng bệnh thường là suốt đời.
Triệu chứng của Hội chứng Fragile X (FXS) là gì?
Một số triệu chứng của FXS:
  • Co giật
  • Phiền muộn
  • Khó ngủ
  • Nói lắp bắp
  • Lo lắng
  • Tự kỷ
  • Bốc đồng
  • Khó khăn khi chú ý
  • Hiếu động thái quá
  • Khuyết tật trí tuệ và học tập, như gặp khó khăn khi học các kỹ năng mới
  • Chậm phát triển, Ví dụ như mất nhiều thời gian hơn bình thường để ngồi, đi bộ hoặc nói chuyện so với các trẻ khác cùng độ tuổi.
  • Các vấn đề xã hội, như không giao tiếp bằng mắt với người khác, không thích bị xúc động và khó hiểu ngôn ngữ cơ thể
Thông thường, trẻ mắc bệnh sẽ có biểu hiện kết hợp của nhiều dấu hiệu bệnh nêu trên đây và mắc độ nặng nhẹ khác nhau.
Một số dấu hiệu về thể chất/ hình dáng bên ngoài cũng có thể đi kèm theo các triệu chứng kể trên như: trán hoặc tai lớn; mặt dài; khớp tay chân yếu, kém linh hoạt; bàn chân phẳng,…vv.

Nguyên nhân là gì?

FXS do một khiếm khuyết trong gen FMR1 nằm trên nhiễm sắc thể X. Nhiễm sắc thể X là một trong hai loại nhiễm sắc thể giới tính (nhiễm sắc thể còn lại là Y). Phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X trong khi nam giới có một nhiễm sắc thể X và một nhiễm sắc thể Y. Các khiếm khuyết, hoặc đột biến, trên gen FMR1 ngăn chặn các gen sản xuất protein đúng cách. Thiếu protein này gây ra các triệu chứng đặc trưng của FXS.

Chuẩn đoán Hội chứng Fragile X (FXS)

Độ tuổi chuẩn đoán tốt nhất: Ở bé trai là: 35 – 37 tháng tuổi. Ở bé gái là 40 tháng tuổi.
Các phương pháp chuẩn đoán bao gồm: xét nghiệm máu, xét nghiệm DNA, kiểm tra sự thay đổi của gen FMR1.

Điều trị Hội chứng Fragile X (FXS)

Việc điều trị có thể giúp người mắc bệnh cải thiện các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống như ngôn ngữ, vận động,…vv. Giúp họ sống độc lập và hạn chế sự phụ thuộc dù FXS có thể không khỏi hoàn toàn.
Trẻ bị Hội chứng Fragile X (FXS) có thể nhận được sự giúp đỡ từ các bác sĩ, chuyên viên trị liệu, giáo viên giáo dục đặc biệt, ... tại các trung tâm y tế, trường giáo dục chuyên biệt. Trẻ sẽ nhận được các giúp đỡ trị liệu tâm lý, hành vi, vận động, hoặc được kê toa thuốc.
Nếu được phát hiện sớm, trẻ mắc chứng Fragile X (FXS) vẫn có cơ hội cải thiện các kỹ năng xã hội, có được cuộc sống độc lập và thành công.

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Những câu hỏi thường gặp về hội chứng tự kỷ ở trẻ em




1. Chuẩn đoán tự kỷ như thế nào?
Việc chuẩn đoán tự kỷ nên được thực hiện bởi các sĩ chuyên khoa, thông qua một loạt các hoạt động, các quan sát và các bài kiểm tra được thiết kế dành riêng để thăm dò và chuẩn đoán có độ chính xác cao. Đồng thời, cũng dựa trên thông tin về triệu chứng được cung cấp bởi cha mẹ/ người chăm sóc trẻ để có kết luận chính xác nhất.
2. Có những phương pháp nào giúp trẻ tự kỷ hòa nhập?
Trẻ tự kỷ có thể sống một cuộc sống bình thường nếu đươc phát hiện sớm các bất thường và tham gia an thiệp trị liệu kịp thời. Đừng ngần ngại đưa con đến các bệnh việc nhi, trung tâm chăm sóc trẻ tự kỷ, các trường chuyên biệt, trường tự kỷ để có thêm nhiều người/ nhiều phương pháp giúp đỡ trẻ hơn.
Thông thường trẻ có thể được can thiệp trị liệu bằng các phương pháp kết hợp như: trị liệu bằng thuốc, triệu hành vi,…vv. Các phương pháp này nhằm giúp trẻ giảm đi các hành vi không phù hợp, khuyến khích và dạy trẻ các hành vi tích cực, giúp trẻ cải thiện dần các triệu chứng của tự kỷ và có được một cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ khác.
3. Trẻ tự kỷ thường có những triệu chứng nào?
Thời gian xuất hiện triệu chứng: 12 – 18 thàng tuổi – giai đoạn này, các triệu chứng dần trở nên rỡ rệt và dễ nhận biết nhất. Nếu được phát hiện kịp thời, cơ hội can thiệp sớm mang lại kết quả tốt rất cao.
Một số triệu chứng phổ biến nhất ở trẻ tự kỷ, đó là:
  • Không nhận thức được hay không có phản ứng khi được gọi
  • Tương tác kém với mọi người xung quanh, kể cả với cha mẹ
  • Giao tiếp bằng mắt kém, trẻ cũng thường tránh việc giao tiếp bằng mắt
  • Kém phát triển về ngôn ngữ
Trong một số trường hợp, trẻ tự kỷ có thể không biểu hiện triệu chứng như kể trên tại gia đình, mà chỉ thể hiện khi ở trường học. Do môi trường không quen thuộc, đồng thời khả năng tương tác của trẻ kém dẫn đến bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn của trẻ.. Điều này cần đến sự hỗ trợ từ phía giáo viên của trẻ.
4. Tại sao trẻ tự kỷ thường “thờ ơ” với ánh mắt (giao tiếp bằng mắt)?
Hầu hết các trường hợp trẻ mắc chứng tự kỷ đều cho thấy khả năng giao tiếp bằng mắt của trẻ tự kỷ khá hạn chế. Nguyên nhân mà các nhà nghiên cứu chỉ ra đó là: vấn đề rối loạn xảy ra tại một số phần não bộ của trẻ tự kỷ có ảnh hưởng đến khả năng nhận diện khuôn mặt và phát hiện các hình ảnh. Đồng thời, một nguyên nhân gián tiếp nữa đó sự kém hơn về mặt ngôn ngữ dẫn đến trẻ tự kỷ cũng khó nhận ra các thông điệp, tình cảm trong ánh mắt người đối diện. Và do đó trẻ tự kỷ ít giao tiếp bằng mắt hơn, thậm chí tỏ ra lảng tránh khi ở trong những tình huống như vầy. Một số trường hợp đặc biệt khác mà cha mẹ cũng nên lưu ý, có thể là trẻ tự kỷ đang có vẫn đề về thị giác và cần được giúp đỡ.
5. Trẻ tự kỷ không lắng nghe, phải làm sao?
Điều này xảy ra khá phổ biến, cha mẹ luôn cảm thấy con không lắng nghe, thậm chí không muốn lắng nghe mỗi khi cần nói chuyện với trẻ, dạy dỗ trẻ, thậm chí trẻ chẳng đáp lời khi gọi tên,…vv. Phải làm thế nào đây?
Trẻ tự kỷ gặp một khó khăn rất lớn về giao tiếp bằng mắt và bằng ngôn từ. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn có thể giao tiếp với trẻ thông qua ngôn ngữ hình thể. Nghĩa là các hành vi, cử chỉ của trẻ, dựa trên đó để nhận biết chính xác trạng thái/tình cảm của đứa trẻ, có kế hoạch giao tiếp phù hợp.
Cha mẹ cũng có thể sử dụng chính ngôn ngữ cử chỉ này để dạy trẻ nhiều điều, như: hướng dẫn trẻ đánh răng, ăn uống, chơi một món đồ chơi,…vv. Tuy nhiên, đừng quên khuyến khích trẻ giao tiếp bằng lời nói nhiều hơn.
6. Chăm sóc trẻ tự kỷ cùng với anh/chị/em của trẻ như thế nào?
Một tình trạng khá phổ biến ở các gia đình đó là anh chị em của đứa trẻ không đủ khả năng nhận thức về khó khăn của thành viên còn lại – đứa trẻ đang mắc chứng tự kỷ. Do đó, một tình huống tiêu cực có thể xảy ra đó là phân biệt đối xử, bỏ rơi, xấu hổ, … xảy ra giữa các đứa trẻ này. Điều này khiến cha mẹ rất khó xử và bối rối. Nên làm thế nào đây?
Nên dành thời gian để các anh/chị/em của trẻ tự kỷ có cơ hội cảm nhận về thế giới của trẻ tự kỷ, hãy để chúng âm thầm quan sát người anh/em đang gặp khó khăn của mình, giải thích cho chúng hiểu,… Và yêu cầu sự hỗ trợ của chúng dành cho anh/em đang mắc bệnh của mình. Đừng mắng chúng hay quá to tiếng, vì những suy nghĩ tiêu cực ấy danh cho chứng tự kỷ là hoàn toàn dễ hiểu – vì chúng còn nhỏ và chưa đủ nhận thức chính xác hoàn toàn về tự kỷ. Thay vào đó nên trò chuyện cởi mở để biết chúng cảm thấy thế nào, đồng thời có cách giải thích phù hợp.
Tìm đến sự trợ giúp của các chuyên gia: Nếu cha mẹ không tự tin có thể truyền đạt tốt cho con hiểu về tự kỷ là gì? Hãy thử cùng chúng đến gặp gỡ với chuyên gia – bác sĩ đang chữa trị cho đứa trẻ tự kỷ, và nhờ sự giúp đỡ. Tin rằng, với chuyên môn của họ, và uy tín, anh/chị/em của đứa trẻ tự kỷ sễ hiểu và dễ dàng chấp nhận hơn.
Xem thêm :

----------------------------------------------------------------------------------------------
Address: Street 12 - No 10, Thao Dien, District 2, Ho Chi Minh City
Phone: 0973347976 - (028) 22 534 728
Email: info@steps.edu.vn  

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

Tự kỷ nguyên nhân và triệu chứng

TỰ KỶ- NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG



Tự kỷ là gì?
Tự kỷ, hay được gọi là rối loạn tự kỷ, là một dạng rối loạn phát triển, xuất hiện ngay từ những năm đầu đời, thường là trước 3 tuổi. Người mắc chứng tự kỷ không có giao tiếp, tương tác xã hội với những người khác, và do vậy, sự phát triển mọi mặt về tâm lý và xã hội đều hạn chế.
Các dấu hiệu của tự kỷ?
Tự kỷ có nhiều đặc điểm đa dạng từ mức nhẹ đến nặng. Những trẻ mắc chứng tự kỷ thường:
·    Có khó khăn trong giao tiếp với người khác: trẻ không cười, nhìn vào mắt người đối diện, không có tương tác với người chăm sóc, không bò/ đi đến người chăm sóc để được bế. Trẻ nói những từ, ngữ không có nghĩa, hay gầm gừ, có sự lặp lại không ngừng một từ hay một câu vô nghĩa. Trẻ như điếc mặc dù thính lực bình thường (giật mình khi có tiếng động).
·    Có những hành vi dập khuôn, lặp đi lặp lại, ví dụ như lắc lư người ra phía trước và phía sau, đập đầu, giữ khư khư một đồ vật, bật tắt công tắc liên tục, chuyển đồ chơi từ tay này sang tay khác liên tục…
·    Ít hứng thú và ít hoạt động. Trẻ em tự kỷ không phát triển được hoạt động chơi mang tính sáng tạo, ví dụ như trò chơi đóng vai “chúng ta hãy giả vờ là…”, theo cách mà những trẻ khác thường chơi. Việc chơi của trẻ Tự kỷ thường cứng nhắc dập khuôn: xoay bánh xe ô tô thay vì cho xe chạy, ít chơi lần lượt với bạn hoặc với anh chị em trong nhà…
·    Khó thích ứng với sự thay đổi hoàn cảnh hoặc những công việc/ diễn biến thường diễn ra hàng ngày. Trẻ Tự kỷ cứng nhắc trong tư duy vì vậy trẻ gặp khó khăn để hiểu và tự điều chỉnh khi có sự thay đổi: trẻ đi theo một con đường nhất định để về nhà hoặc đến trường..., chơi xếp hình chỉ theo cách riêng của từng trẻ, chỉ ăn một thức ăn nhất định (cháo, bánh mì..). Nếu thay đổi cách khác với trẻ, lập tức trẻ phản ứng mạnh mẽ (la khóc, cào cấu…) để chống lại sự thay đổi.
·    Những trẻ mắc hội chứng Tự kỷ thường bị ám ảnh với những vật cá biệt hay những hành vi đặc biệt, tập trung vào chúng mà không quan tâm đến những việc khác xung quanh.Trẻ cũng có “những vùng phát triển khả năng đặc biệt”. Một số trẻ tự kỷ tổn thương nặng ở nhiều khả năng nhưng họ cũng có thể thể hiện được những tài năng như trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật, toán và cơ khí.
Các dấu hiệu của chứng tự kỷ thường xuất hiện sớm từ những năm đầu đời, nhưng đôi khi chúng cũng xuất hiện sau một số tháng phát triển bình thường. Trong hầu hết các trường hợp, không thể xác định được sự kiện nào là sự kiện khiến trẻ đang phát triển bình thường lại dần thoái triển, rơi vào chứng tự kỷ.
Cha mẹ nên đưa trẻ đến các nhà chuyên môn (bác sĩ nhi, nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần...) nếu:
·    12 tháng tuổi, trẻ không bập bẹ, bi bô.
·    12 tháng tuổi, trẻ không ra hiệu, làm điệu bộ như vẫy tay, chỉ chỏ, với đồ chơi…
·    16 tháng tuổi, trẻ không nói được từ nào.
·    2 tuổi, trẻ không nói được câu ngắn nào đáp trả.
·    Ở mọi độ tuổi, có sự mất/ suy thoái các kĩ năng ngôn ngữ và xã hội.
Tỉ lệ mắc phải
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, cứ 10,000 người thì có 12 người mắc chứng tự kỹ và số lượng trẻ nam mắc phải cao gấp 3 lần số trẻ nữ.
Nguyên nhân.
Các nghiên cứu hiện nay đều chưa dám khẳng định nguyên nhân chính xác của chứng tự kỷ. Một số giả thiết cho rằng, tự kỷ có nguyên nhân từ các yếu tố sinh học hoặc môi trường, hoặc cả hai, bao gồm cả các yếu tố nhiễm khuẩn lúc mang thai, các khiếm khuyết của hệ thống miễn dịch, gen.
Qua nghiên cứu các gia đình có trẻ mắc chứng tự kỷ và những gia đình có con song sinh, nhiều học giả ủng hộ giả thuyết về gen. Tuy nhiên, đến nay, các nhà nghiên cứu chưa xác định được gen nào là gen nguyên nhân gây ra chứng này.
Giả thuyết về não cũng được đưa ra, ví dụ như sự phát triển không bình thường của não ngay từ thời kì bào thai hoặc vấn đề bất thường của tuần hoàn não, thiếu các chất sinh hóa trong não (ví dụ như lượng sereton). Tuy nhiên, hiện nay, tất cả những giả thuyết đưa ra vẫn chỉ dừng lại ở mức độ giả thuyết.
Can thiệp/ trị liệu
Phát hiện sớm là điều có ý nghĩa quan trọng cho việc trị liệu trẻ mắc chứng tự kỷ, vì khi được phát hiệp và can thiệp sớm, trẻ sẽ được trợ giúp để phát triển ngay từ đầu các kĩ năng ngôn ngữ, xã hội, nhận thức. Việc can thiệp cho trẻ tự kỷ thường bao gồm:
·    Luyện tập, giáo dục cho trẻ các kĩ năng ngôn ngữ, nhận thức, xã hội và kĩ năng tự phục vụ bản thân.
·    Hướng dẫn, tư vấn cha mẹ trẻ để hỗ trợ trẻ.
Không có cách chữa nào làm biến mất chứng tự kỹ. Việc can thiệp/ trị liệu chỉ nhằm khống chế và làm giảm bớt các triệu chứng, giúp trẻ cải thiện thực hiện các chức năng.


Xem thêm :
----------------------------------------------------------------------------------------------------
18A Vo Truong Toan Street, Thao Dien, District 2, Ho Chi Minh City
Phone: 0973347976 - (028) 22 534 728